Tin tức
Cùng với Lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội, quần thể xây dựng chùa Bái Đính thuộc xã Gia Sinh, Gia Viễn, Ninh Bình, trên đất cổ Kinh đô Hoa Lư, đã được triển khai quy mô trong nhiều năm qua, là một sự kiện rất đáng trân trọng. Là một công trình kinh tế du lịch lớn, quần thể xây dựng Bái Đính còn là một công trình văn hoá có giá trị tâm linh sâu sắc, là chốn tưởng niệm nghìn năm trước lịch sử dân tộc, đất nước Việt Nam.

Cách đây hơn một nghìn năm, để có được Kinh đô Hoa Lư "tiến có thế công, lùi có thế thủ", Đinh Tiên Hoàng đế đã phải cùng sứ quân Trần Minh Công (Trần Lãm) trải qua gần mười năm (959-968) chinh chiến dẹp loạn 12 sứ quân trên một địa bàn rộng lớn gần như khắp nước: Ngô Xương Xí (Hưng Yên); Đỗ Cảnh Thạc (Hà Đông); Kiều Công Hãn (Vĩnh Phú); Ngô Nhật Khánh (Sơn Tây); Lý Khê (Bắc Ninh); Nguyễn Thủ Tiệp (Tiên Du); Lữ Đường (Văn Giang); Nguyễn Siêu (Thanh Trì); Kiều Thuận (Cẩm Khê); Phạm Bạch Hổ (Đằng Châu).
Giữa một địa hình đẹp như một "Hạ Long trên cạn", rừng núi điệp trùng hiểm trở; không khác chi thung lũng Tam Điệp (hậu cứ vĩ đại của Hoàng đế Quang Trung sau này), năm 968, sau khi xưng vương, đặt tên nước Đại Cồ Việt (nước Việt đi trên đường lớn), Đinh Tiên Hoàng đã chọn đất Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ dựng Kinh đô Hoa Lư.
"Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo.
Hoa Lư đô thị Hán Trường An"
Nghĩa là:" Nước Đại Cồ Việt ngang hàng với nhà Tống đời Khai Bảo/ Kinh đô Hoa Lư của Đại Cồ Việt cũng như kinh đô của nhà Hán là Trường An".
Với ý thức tự chủ kiên định và lớn lao như vậy, và cũng để giữ vững nền tự chủ của một quốc gia thống nhất, trung tâm Kinh đô Hoa Lư thời đó là thành Hoa Lư bao trùm trên một diện tích lớn hàng chục nghìn mẫu ta, có tường thành đắp bằng đất, bó gạch to, cao tới vài ba chục thước. Mỗi viên gạch đều có in chữ "Đại Việt quốc quân thành chuyên". Thành Hoa Lư chia làm hai khu vực nối với nhau qua một ngách núi lớn là Quèn Võng và hàng trăm đường hầm hào bí mật nối với một hệ thống hang động chằng chịt của hàng chục ngọn núi đá vôi bao quanh trong dãy núi 99 ngọn kéo dài mở rộng nhiều phía. Khi cần cố thủ thì tập trung quân ở hai thành lớn là Thành Nội và Thành Ngoại. Khi cần phá vây diệt địch thì có thể toả quân ra theo các đường hang động, mật tập vào sau lưng kẻ vây thành....
Cùng với thành cao, hào sâu, một hệ thống cung điện nguy nga, đường bệ cũng được dựng lên từ triều Đinh sang triều Tiền Lê. Đấy là điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, dát vàng bạc tráng lệ, là nơi coi chầu (họp triều thần). Bên đông điện này là điện Phong Lưu; bên tây là điện Tử Hoa; bên tả là điện Bồng Lai: bên hữu là điện Cực Lạc. Nhiều toà lầu lợp ngói bạc cũng được dựng lên như lầu Đại Vân, lầu Trường Xuân, điện Long Lộc. Chùa Một Cột với cột kinh Lăng Nghiêm tám cạnh hình trụ cũng được dựng lên với hàng trăm cột kinh phật của Thái Tử Nam Việt Vương (Đinh Liễn) và lầu Am Tiêm. Cờ của Nhà nước Đại Việt được dựng lên trên đỉnh núi cao hàng nghìn thước. Xung quanh là Hang Muối, Hang Tiền, Hang Gạo, Núi Chợ, Đấu Đong Quân... được nối với hàng trăm gian nhà, hang động chứa lương thực, vũ khí, ngựa xe bằng những con đường có lát gạch hoa cúc, in hình phượng... Tất cả những con đường này đều đổ về một con đường lớn là đường Tiên Yết có cổng thành bằng đá và một đồn tiền tiêu- một trạm gác ở chân núi Dũng Dương. Đấy chính là Động Thiên Tôn. Động chia làm hai phần. Phần ngoài rộng chừng vài nghìn thước vuông (chừng 200m2) trần cao, giữa đặt một hương án đá rộng, có trạm trổ tinh vi như 18 vị La Hán bên trái và quả chuông lớn bên phải. Phần trong Động Thiên Tôn cũng có án thư, bệ thờ, tượng Trấn Vũ Thiên Tôn đứng chống gươm trên lưng rùa đá...
Để tưởng nhớ các bậc tiên liệt thời Đinh, tiền Lê, sau khi dời đô về Thăng Long, nhà Lý đã xây ngay trên đất cố đô Hoa Lư những ngôi đền lớn này. Trung tâm khu vực thành ngoại, tựa lưng vào dãy núi Phi Vân nhìn ra Mã Yên Sơn (núi yên ngựa) là đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, có tạc tượng Hoàng hậu Dương Vân Nga và Hoàng Thái tử Đinh Liễn bên cạnh. Ngay chân núi Mã Yên là đền thờ Vua Lê Đại Hành.
Đến đời hậu Lê, vào khoảng cuối thế kỷ XVII (1696) có một cuộc trùng tu lớn. Những sân rồng, sập rồng, bia đá đề công đức đời Đinh, tiền Lê mà chúng ta còn được chiêm ngưỡng ngày nay, chính là nhờ cuộc trùng tu ngày đó. Niềm tưởng nhớ tổ tiên bao giờ cũng là một... long mạch lớn trong lòng người dân Việt. Ngay khi vào cái thế không thể khác vì sự mở mang, hưng thịnh quốc gia cần dời đô về Thăng Long, Lý Thái Tổ cũng vẫn cảm thấy rất nhiều lưu luyến thương nhớ cố đô Hoa Lư. Ngài đã viết ngay trong "Chiếu dời đô": "Trẫm rất đau đớn (song) không thể không dời". Và khi xây dựng Kinh đô Thăng Long, Ngài đã dựng Chùa Một Cột, đặt tên Cầu Đông, Cầu Dền... là những công trình, địa danh có gốc từ Hoa Lư, nơi mà Ngài đã dựng nghiệp!
Còn bây giờ, trước mắt chúng ta sẽ là quần thể chùa Bái Đính- cuộc mở rộng, trùng tu lớn tiếp theo trên cố đô Hoa Lư. Quần thể mở rộng, trùng tu này sẽ triển khai sao cho xứng đáng với truyền thống lịch sử và đặc biệt, Hoa Lư- Bái Đính sẽ trở thành trung tâm của một "liên-hoàn-quần-thể-du-lịch-Ninh-Bình" nơi quy tụ những kiệt tác thiên nhiên, những kiệt tác kiến trúc: Tam Cốc- Bích Động; Dục Thuý Sơn; Động Tiên; Động Địch Lộng; Động Vân Trình; suối nước nóng Kênh Gà; hồ Yên Thắng; hồ Đồng Thái, hồ Động Chương; núi Ngọc Mỹ Nhân; rừng nguyên sinh Cúc Phương bao la huyền thoại...
Sau hai mươi năm đổi mới và trước vận hội mới của đất nước, tôi tin tưởng Ninh Bình, không lâu nữa, sẽ trở thành một kinh đô của du lịch.
Đấy sẽ là nơi đi về của tình yêu thương:
"Ngỡ chỉ có quyền uy, đá và trận mạc
Nơi đá tạc ngai vua, đá hoá long-sàng
Ai biết được một ngày đá giật mình ngơ ngác
Đẫm hoàng-bào nước mắt một tình yêu"
Đây sẽ là nơi, mà ngay từ khi, vì một hoàn cảnh nào đó, bị "bỏ quên", người ta vẫn tin vào Ninh Bình từ những năm 1985:
"Thị xã bị lãng quên cây dại mọc tận thềm
Nơi em đợi cũng chìm vào ngút cỏ
May mắn quá còn một vầng Thuý đó
Một vầng trăng hoá đá đợi ta về"
Đấy không phải chỉ là những "hồi ức của đá" mà là của niềm tin và tình yêu của chúng ta về một miền đất, miền người.
English
Tiếng Việt











