Dịch vụ phụ trợ
Ở quãng giữa hai ngã ba sông - sông Hông hợp lưu với sông Đà tại gót Nung, sông Lô hợp lưu với sông Hồng tại Việt Trì, còn gọi là Ngã Ba Hạc, địa danh đã đi vào văn thơ với bài Ngã Ba Hạc phú nổi tiếng của Nguyễn Bá Lân - có một ngôi làng nhỏ bé nằm ven sông, mang một cái tên khá độc đáo: làng Cổ Đô.
Làng Cổ Đô ngày nay thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây. Từ ngày hình thành, Cổ Đô có nhiều tên khác nhau. Từ xa xưa, Cổ Đô có tên gọi là Cổ Cẩm, huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây. Sau đó được đổi tên là Yên Đô (hay An Đô). Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Cổ Đô có tên là Cổ Sắt, một cái tên tượng trưng cho ý chí kiên cường của người dân Cổ Đô đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khi tạm bị chiếm.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, Cổ Đô là một vùng tụ cư của các cộng đồng người Việt cổ, có nhiều dấu vết văn hoá - lịch sử cùng nhiều hiện vật khảo cổ được chôn cất trong các khu mộ táng có niên đại từ thế kỷ III (trước Công nguyên) đến thế kỷ I (sau Công nguyên), như: bình, thạp gốm, rìu đồng, lưỡi xéo (binh khí), các viên gạch nung có hoa vãn hình ô trám. Những hiện vật đó được trưng bày tại nhà truyền thống của làng cùng với những tý liệu lưu giữ ở Viện Sử học, Viện Hán Nôm đã chứng minh cho nhận định đó.
Làng Cổ Đô có ngôi đền nổi tiếng ở núi Cẩm Sơn,có kiểu kiến trúc cổ khá đặc biệt với cổng tam quan kỳ vĩ có đại tự đề Thánh tích Cẩm Sơn (dấu vết thánh ở núi Cẩm). Theo thần phả, đức thành hoàng được thờ ở ngôi đền này là một vị nhân thần đã chết tại Cổ Đô khi đang thực thi một sự nghiệp lớn là tìm cách khôi phục nhà Trần vào thế kỷ XIII. Vì vậy, trong ngôi đền có đại tự đề Đại đức đô thành hoàng (Thành hoàng có đức độ lớn).
Cổ Đô còn có đền thờ bà Công chúa Thiếu Hoa, con gái vua Hùng đời thứ 9 từ thành Phong Châu sang dạy cho dân làng nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Lụa Cổ Đô là một trong những sản vật tiến vua, đã đi vào kho tàng ca dao cổ:
Lụa này thật lụa Cổ Đô
Chính tông lụa cống, các cô ưa dùng
Tiếc rằng, nghề truyền thống này đã mai một; địa phương đang có phương án khôi phục.
Cổ Đô vẫn được dân trong vùng tôn vinh là đất học, có truyền thống khoa bảng từ đời này sang đời khác. Tiêu biểu là hai vị Thượng thư nổi tiếng thời Lê: Nguyễn Sư Mạnh, Nguyễn Bá Lân, hai ông tổ của hai dòng họ Nguyễn lớn nhất làng.
Nguyễn Sư Mạnh đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) đời Lê Thánh Tông. Được bổ làm quan, ông luôn tỏ ra là một ông quan thanh liêm, cương trực, được nhà vua tin cậy, phong cho chức Thượng thư Bộ Lễ, tước Sùng Tín hầu. Thời ấy, giữa hai nước Đại Việt và Trung Hoa có nhiều bất hoà. Nguyễn Sư Mạnh vốn là người biết nhiều, hiểu rộng, được vua Lê cử đi sứ Trung Quốc (năm 1500). Có nhiều giai thoại về chuyến đi sứ này, được đòng họ Nguyễn truyền.tụng và ghi vào tộc phả. Khi vào yết kiến vua Minh, không biết vô tình hay hữu ý, Nguyễn Sư Mạnh không cài khuy áo, đế hở cả bụng. Vua Minh giận dữ, cho là sứ thần nước Nam thất lễ, hạch tội khi quân, định trục xuất về nước. Nguyễn Sư Mạnh quỳ tâu rằng: ''Vì đường sá xa xôi, bụng thần đầy chữ, nhiều ngày đi đường âm u, ẩm ướt, sợ khú mất chữ thánh hiền, thần xin được phanh áo ra hong, mong nhà vua đại xá''. Nghe vậy, vua Minh vừa muốn thử tài, vừa muốn hại người nước Nam, ra chiếu: ''Nếu sứ thần nước Nam là người hay chữ thì hãy giúp Thiên triều chép lại thiên Vi chính trong sách Luận mới bị thất lạc". Nguyễn Sự Mạnh nhận lời và hỏi lại: ''Đại vương cần thiên Vi chính trong bao nhiêu ngày?''. ''Trong 30 ngày phải hoàn tất", vua Minh hạ lệnh và ra điều kiện cho sứ thần không được ra khỏi dinh thự trong 30 ngày chép lại thiên Vi chính. Vua Minh chắc mẩm sứ thần nước Nam không thể làm nổi việc đó, sai người theo dõi. Lạ quá, gần hết thời hạn quy định mà không thấy sứ thần làm gì, chỉ ngồi đánh cờ. Đến ngày thứ 25, vua Minh sai người nhắc nhở, Nguyễn Sư Mạnh trả lời: “Ngày mai thần sẽ viết”. Đến ngày thứ 29, ông đã dâng thiên Vi chính cho vua Minh. Nhận sách, vua Minh khen sứ thần có trí nhớ tuyệt vời, sách chép lại y như bản chính, chỉ có chữ "công'' thừa một dấu chấm. Vua Minh hạch tội, Nguyễn Sư Mạnh khảng khái nói: ''Nếu thần viết thừa dấu chấm thì chắc chắn bản gốc của thượng quốc cũng thừa''. Vua Minh cho đem bản gốc ra so sánh thì y như lời Nguyễn Sư Mạnh, chữ ''công'' cũng thừa dấu chấm thật. Phục tài, vua Minh không lý gì để làm hại sứ thần nước Nam, lại phong cho ông chức Thượng thư của Trung Quốc. Bốn chữ ''Lưỡng quốc Thượng thư” được khắc tại từ đường họ Nguyễn Cổ Đô nhắc đến công lao của nhà ngoại giao đại tài Nguyễn Sư Mạnh.
Từ đó, Nguyễn Sư Mạnh được nhà Lê tin dùng và được ban quốc tính họ Lê, được nhà vua gả cho công chúa, được phong chức Vinh Lộc Đại Phu, coi việc Viện Hàn lâm kiêm Đông Các Đại Học Sĩ. Tuy vậy ông vẫn sống giản dị, cửa nhà đơn sơ, tài sản không có gì đáng giá. Ông thọ 82 tuổi.
Vị Thượng thư thứ hai, người của dòng họ Nguyễn thứ hai làng Cổ Đô, là một người không những nổi tiếng chốn quan trường, mà còn nổi tiếng về văn chương, thơ phú. Đó là Lục bộ Thượng thư Nguyễn Bá Lân, tác giả bài Ngã Ba Hạc phú nổi tiếng. Ông sinh ngày 27 tháng Giêng năm Canh Thìn (1700). Cha của Nguyễn Bá Lân là Nguyễn Công Hoàn, cũng là người nổi tiếng, được người đời liệt vào trong ''Tràng An tứ hổ'' (Bốn con hổ của đất Tràng An), gồm: Nhất Quỳnh, nhị Nham, Tam Hoàn, tứ Tuấn. Dù tài ba xuất chúng, nhưng con đường khoa cử của Nguyễn Công Hoàn thì lận đận. Năm Nguyễn Bá Lân 15 tuổi, ông Hoàn về dạy học ở quê để trực tiếp dạy con. Cha dạy con học nhưng đồng thời lại cùng nhau xướng hoạ văn chương. Nguyễn Bá Lân là một người ham mê đọc sách, nên kiến thức uyên bác, có tài ứng đáp, xuất khẩu thành chương.. . Có nhiều chuyện kể về xướng hoạ văn chương giữa hai cha con: Một hôm hai cha con qua đò, cha nhìn thấy đàn dê bên kia sông bèn ra bài phú Dịch đình dương xa phú (Bài phú xe dê cung cấm) và thách con: ''Sang bên kia sông, nếu ta làm xong bài phú mà con chưa xong, ta sẽ ném con xuống sông, còn không thì ngược lại”. Không ngờ, Nguyễn Bá Lân làm song bài phú trước cha, còn cha mới xong một nửa, nhưng ông không dám ném cha xuống sông, liền bị cha đánh. Đó là bài phú nổi tiếng được người đời truyền tụng Nhất độ giang thành chương phú (Bài phú làm trên một chuyến đò qua sông).
Năm 18 tuổi, Nguyễn Bá Lân đỗ giải nguyên tại kỳ thi Hương. 20 tuổi, ông thi đỗ tại kỳ thi Hội, và 31 tuổi ông đô Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân tại kỳ thi Đinh năm Tân Hợi (1731).
Về tài thơ văn của Nguyễn Bá Lân, không ai không nhớ bài Ngã Ba Hạc phú, vì nó là bài phú Nôm có vai trò rất lớn đối với sự phát triển thể loại văn biền ngẫu bằng chữ Nôm. Cảm hứng chủ đạo của bài phú là tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước và yêu con người của tác giả. Tình yêu đó đã quyện vào ngọn bút của ông, bay vút lên thành hồn thơ lai láng.
Tài thơ văn của ông không chỉ dừng ở bài Ngã Ba Hạc phú, điếm chói sáng nhất của sự nghiệp văn chương của ông, mà còn phải kể đến hàng chục bài phú chữ Hán trong các tuyển tập phú cố: Danh phú tập, Bát vận phú, Hoàng Lê Cát vận phú v.v...
Điều đáng nói nữa về Nguyễn Bá Lân là hoạt động quan trường, là sự nghiệp trong suốt cuộc đời ông. Trong 50 năm ông có 17 lần thăng quan tiến chức với những trọng trách ngày càng nặng nề, phức tạp hõn trong thời Hậu Lê đầy biến động, đàng trong do nhà Nguyễn nắm quyền, đàng ngoài là vua Lê – chúa Trịnh. Năm 1732, ông giữ chức Tý Huấn, năm 1734: Hàn Lâm viện kiểm thảo, giám sát đạo Nam Sơn, Đề hình Giám sát (Ngự sử); năm 1737: Đốc đồng xứ Sơn Tây; năm 1740: Tòng Tham tụng, rồi Lưu thủ Hưng Hoá, Thống đốc Cao Bằng; năm 1756: Bồi tụng kiêm Tế Tửu Quốc Tử Giám; năm 1767 làm Thượng Thư Bộ Lễ rồi Thượng thư Bộ Hộ và cuối đồi là Thượng thư Bộ Công...
Trong hoàn cảnh xã hội đầy nhiễu nhương, Nguyễn Bá Lân.vẫn giữ tư cách là một ông quan thanh liêm, cương trực, luôn giữ kỷ cương phép nước. Có một chuyện người đời nhớ mãi: Vào khoa thi năm Ất Mùi (1775), Trịnh Sâm đến giảng sách, bắt các quan trong triều phai mũ áo triều yết như vua Lê ra xem thi (Trịnh Sâm muốn bá quan phải coi mình như nhà vua). Là Thượng thư Bộ Lễ, ông phản đối kịch liệt, ông vẫn mặc thường phục và tâu rằng: ''Các đấng liệt thánh tiên vương xưa nay vẫn giữ đạo tôn vua, truyền đời trải 200 năm, nay một sớm thay đổi sợ làm kinh hãi cho mọi người. Nguyễn Hoàn là Sư phó đại thần không biết uốn nắn cho chúa (chỉ Trịnh Sâm) đi vào đường chính, xin chém đầu để tạ thiên hạ''. Trước thái độ quyết liệt và đúng đắn của ông, Trịnh Sâm buộc phải hồi loan, trong lòng đầy ấm ức.
Hai vị Thượng thư, hai học giả nổi tiếng làng Cổ Đô là tấm gương cho bao đời con cháu noi theo, biến cái làng nhỏ bé ven sông Hồng này trở nên đất học, đất khoa cử, đất làm quan, đất văn thơ - nghệ thuật. Ở thời nào, Cổ Đô cũng có người đỗ đạt, dòng họ nào cũng có người làm quan. Sau Nguyễn Bá Lân, chỉ tính từ 1807-1818 có nhiều người đỗ cử nhân, như Phan Văn Hưng, Nguyễn Văn Ký, Nguyễn Duy Hành, Nguyễn Văn Quy, Nguyễn Văn Nhuận.. . trong 16 đời họ Nguyễn Sư Mạnh đã có 89 vi cử nhân và tú tài. Dưới chế độ mới, Cổ Đô vẫn tiếp tục nêu truyền thống đất học, có 285 người có trình độ đại học, gần 20 người trên đại học (tính đến năm 2000).
Phát huy truyền thống vãn chương – nghê thuật, dưới chế độ mới làng Cổ Đô có một nét văn hoá ít có làng quê Việt Nam nào sánh kịp, đó là làng hoạ sĩ. Sau hoạ sĩ Sĩ Tốt khá nổi tiếng với những bức tranh được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia như Bố con, Tiếng đàn bầu cùng nhiều tranh khác được lưu giữ ở các Bảo tàng lớn ở Mỹ, Pháp, Đức, Thuỵ Điển... là gần hai chục hoạ sĩ thế hệ kế tiếp được đào tạo ở hai trường Đại học Mỹ thuật lớn của đất nước là trường Đại học Mỹ thuật Yết Kiêu và trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Đó là các hoạ sĩ Sĩ Tuấn, Sĩ Thiết, Sao Mai, Ngô Bình Thiểm, Giang Khích, Trần Hoà, Nguyễn Thạch, Nguyễn La Vuông, Quang Trung.. . Chính nhờ nét đẹp văn hoá đó mà người dân trong vùng đã ghép làng Cổ Đô thành làng lụa – làng thơ - làng hoạ sĩ, thật chẳng ngoa.
Những nét đẹp văn hoá đó đã hun đúc cho người Cổ Đô một phẩm chất cao quý. Đó là phẩm chất yêu nước, yêu quê hương và truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm. Phải là một người yêu nước, tự tôn dân tộc, Nguyễn Sư Mạnh mới hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một sứ thần nước Nam trước thói hách dịch, nước lớn của vua Minh. Nguyễn Bá Lân là một ông quan vặn võ song toàn, có công dẹp loạn ở trấn Sơn Tây, Cao Bằng. Khi giặc Pháp xâm lược Việt Nam, thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai, Đề đốc Trần Vàng, người của dòng họ Trần làng Cổ Đô đã lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp ở vùng Sơn Tây, Phú Thọ. Khi triều đình Huế ký hoà ước đầu hàng, giặc Pháp rải truyền đơn kêu gọi nghĩa quân đầu hàng, Đề đốc Trần Vàng động viên quân sĩ chiến đấu đến cùng, bằng lời lẽ đanh thép: ''Triều đình hàng, chúng ta không chịu nỗi nhục đầu hàng!''. Sau 6 năm chống giặc, do lực lượng chênh lệch, nghĩa quân Trần Vàng thất bại, ông bị giặc bắt nhưng không chịu quy phục chúng và bị chúng sát hại dã man. Truyền thống chống Pháp của nghĩa quân Trần Vàng lại hun đúc nên sự nghiệp anh hùng của người dân Cổ Đô trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cổ Đô được Nhà nước phong tặng là Đơn vị Anh hùng LLVT- ND'', với 1630 Huân chương các loại trao tặng cho tập thể và cá nhân, 15 bà mẹ được phong tặng Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, làng Cổ Đô được công nhận là Làng Văn hoá.
English
Tiếng Việt











